Ngang

Banner

Menu

20:19 EDT Thứ hai, 23/10/2017

Hinh

Danh mục

Thăm dò ý kiến

Bạn là ai ?

Học sinh

Cựu học sinh

Giáo viên - Cán bộ nhà trường

Phụ huynh học sinh

Khách vãng lai

Thành viên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 24

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 23


Hôm nayHôm nay : 500

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10470

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4122347

Trang nhất » Tin Tức » Phương pháp dạy học

CHUYÊN ĐỀ DẠY HOC DỰA TRÊN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Thứ sáu - 30/10/2015 09:01
                                                      CHUYÊN ĐỀ DẠY HOC DỰA TRÊN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
                                                                                                PHẦN I 
                                                                DẠY HOC DỰA TRÊN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ        
       Dạy học giải quyết vấn đề (DH GQVĐ) là con đường quan trọng để phát huy tính tích cực của HS, là một trong những vấn đề giáo viên chúng ta cần phải làm để đổi mới phương pháp giảng dạy. Nhưng còn rất nhiều giáo viên chúng ta còn mơ hồ về khái niệm cũng như cách thức làm sao để thành công trong quá trình dạy học giải quyết vấn đề.     
       Căn cứ vào chương trình, SGK môn Ngữ văn với quan điểm tích hợp và rèn luyện 4 kĩ   năng: nghe, nói, đọc, viết.
       Căn cứ vào đặc trưng và sự vận dụng các PPDH của từng phân môn VH,TV,TLV
       Căn cứ vào quan điểm mới về việc sử dụng các thiết bị dạy học( thiết bị truyền thống và sử dụng công nghệ thông tin trong dạy và học )
       Căn cứ vào quan điểm mới về tổ chức các hoạt động học tập(dạy học đồng loạt và dạy học theo nhóm), Bộ GD-ĐT đã có những định hướng đổi mới về PPDH phù hợp với đặc trưng môn học Ngữ văn. Tinh thần cơ bản của đổi mới PPDH là tích cực hóa hoạt động học tập của HS và hoạt động dạy học của HS. Định hướng giáo dục này nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn NV ở trường THCS.  :Chuyên đề: “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” được phòng GD&ĐT Tam Kỳ  chỉ đạo, tổ chức thực hiện trong năm học 2012- 2013 chia làm 4 giai đoạn:
       Tổ chức tại trường từ đầu năm học 2012 (mang tính thử nghiệm).
       Tự tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm tại trường
       Tổ chức sinh hoạt toàn thành phố.
       Tổng kết chuyên đề  rút kinh nghiệm
       Qua thời gian học tập nghiên cứu, tìm hiểu, giảng dạy tổ chức thực hiện  tại trường, chúng tôi rút ra được những nét chung và xin trình bày về chuyên đề: “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”như sau:
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ :
       Trước đây, giáo viên chúng ta đã làm quen việc giảng dạy còn quá nặng về lý thuyết, còn quá coi trọng vai trò của người dạy, chưa sát thực và chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế. của người học 
- Hoạt động nhận thức còn ở mức độ thấp so với yêu cầu của thực tế
- Sự nghèo nàn về phương thức đánh giá người học, việc đánh giá còn quá nặng về kiểm tra khả năng học thuộc.
        Phương pháp “Dạy học nêu vấn đề” và đến nay chúng ta đã vận dụng một cách thành thạo trong quá trình giảng dạy ở hầu hết các bộ môn trong trường THCS. Đây là một khả năng có ý nghĩa rất quan trọng đối với một con người và không phải dễ dàng mà có được. Mặt khác sự thành đạt trong cuộc đời không chỉ tuỳ thuộc vào năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn mà bước quan trọng tiếp theo là giải quyết hợp lí những vấn đề được đặt ra.
        Hiện nay phương pháp “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” - cách hiểu khác của “dạy học nêu vấn đề” - là phương pháp đang được các chuyên gia giáo dục quan tâm và đưa vào thực tế giảng dạy nhằm đòi hỏi ở người học một tư duy tích cực, chủ động để nắm bắt kiến thức môn học một cách hiệu quả nhất, tối ưu nhất. Như vậy, chúng ta đang làm “cái mới” trên nền “cái cũ”. Song phải hiểu rõ bản chất và thực hiện phương pháp dạy học này như thế nào, đó là điều khiến chúng ta trăn trở và thực sự quan tâm.
       Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, trong thực tế không có phương pháp dạy học nào là hoàn hảo, tối ưu. Vấn đề là người dạy phải biết vận dụng phương pháp nào và vận dụng ra sao để đem lại hiệu quả tốt nhất cho người học. Nhất là các phương pháp dạy học tích cực hiện nay, luôn coi trọng mục tiêu lấy người học làm trung tâm.
        Với tinh thần không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, nâng chất lượng giảng dạy trong nhà trường theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh qua việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, kĩ thuật dạy học tích cực hướng các em vào việc vận dụng kiến thức nội dung bài học , tình huống trong thực tế  cuộc sống, năm học 2012 - 2013 Phòng GD&ĐT Thành phố Tam kỳ tổ chức tập  huấn  chuyên môn hè với chuyên đề “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”  cóp các trường THCS trong thành phố tham gia  ở các bộ môn trong đó có môn Ngữ Văn
  IIGIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 
       “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” là phương pháp dạy học theo định hướng lấy học sinh làm trung tâm. Trong đó học sinh học về các chủ đề thông qua các vấn đề có trong thực tiễn và liên quan tới nội dung môn học. Làm việc theo nhóm, học sinh xác định những điều đã biết, những điều cần biết, và làm thế nào để có được những thông tin cần thiết trong việc giải quyết vấn đề. Để vận dụng phương pháp này vào quá trình giảng dạy là điều không hề đơn giản đối với mỗi giáo viên chúng ta..
1)    Thực trạng vấn đề:
 A. Đối với học sinh:
        Như chúng ta đã biết, các phương pháp dạy học tích cực đều yêu cầu học sinh phải tích cực, chủ động, siêng năng và sáng tạo... Trong thực tế, yêu cầu này không phải học sinh nào cũng đáp ứng được bởi trình độ học sinh trong một lớp học là không đồng đều, có một số học sinh học quá yếu, không theo kịp tiến trình bài học. Mà đối với  phương pháp “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” yêu cầu, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức bài học để giải quyết tình huống trong thực tế nên học sinh không đủ khả năng khám phá hết yêu cầu của bài học, hoặc đi sai hướng giải quyết vấn đề, có thể không làm đúng những điều giáo viên mong muốn
    B. Đối với giáo viênVì mới là bước đầu mang tính thử nghiệm nên chúng tôi  còn lúng túng, gặp những khó khăn khi thực hiện phương pháp này. Cụ thể như sau:
       -  Khó khăn khi chọn vấn đề phù hợp để đưa vào nội dung bài dạy.
       -  Phải đầu tư nhiều thời gian và công sức để lập kế hoạch và thực hiện
       -  Đòi hỏi giáo viên phải hiểu biết rộng, nhạy bén trong việc liên hệ giữa kiến thức trong cuộc sống với những vấn đề mà mình cần giải quyết trong từng bài học liên quan đến phạm vi, nội dung trong chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình.
2) Nguyên tắc của “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề”.
      - Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề nhằm nhấn mạnh khâu giải quyết vấn đề, coi đây là khâu chủ yếu. Kích thích hứng thú học tập của học sinh Nếu học sinh tham gia vào khâu này thì sẽ vừa nắm được kiến thức, vừa nắm được phương pháp để đi đến kiến thức đó.
     - Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề nhằm khám phá những vấn đề từ thực tiễn có liên quan đến người học và liên quan đến nội dung học tập đã được qui định trong chuẩn kiến thức kĩ năng. Gắn nội dung môn học với thực tiễn Trên cơ sở đó, người học tự chiếm lĩnh tri thức và phát triển các năng lực như lập kế hoạch, tự định hướng học tập, hợp tác, các kĩ năng tư duy bậc cao, kĩ năng sống.
     - Về bản chất, đó là việc học mà kết quả của nó thu được từ kết quả của quá trình giải quyết vấn đề. Do đó vấn đề vừa là bối cảnh, vừa là động lực cho việc học, quá trình giải quyết vấn đề là phương tiện đạt đến kết quả của việc học.  Rèn luyện khả năng tự định hướng, tự học cho học sinh
 - Trong dạy học dựa trên giải quyết vấn đề, kiến thức, kĩ năng cần học tập thường không được trình bày dưới dạng mặc định, có sẵn mà tiềm ẩn trong các vấn đề. Khi giải quyết, các vấn đề sẽ Phát triển tư duy phê phán, kỹ năng giải quyết vấn đề, ra quyết định khả năng được bộc lộ, thông qua giải quyết vấn đề, người học sẽ chiếm lĩnh được các kiến thức, kĩ năng. Vì vậy việc phát hiện, xây dựng vấn đề, tổ chức các hoạt động giải quyết vấn đề là nội dung trọng tâm của dạy học dựa trên giải quyết vấn đề.Thúc đẩy làm việc hợp tác, phát triển kỹ năng sống Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề Vấn đề thực tiễn có liên quan đến người học  nhưng đảm bảo theo“chuẩn kiến thức,kĩ năng .Vấn đề nằm trong thực tiễn đời sống có liên quan đến bài học. Vận dụng kiến thức trong bài học và vốn sống thực tế để giải quyết.Vấn đề nêu ngay từ đầu tiết học/đầu hoạt động.
 3- các mức độ  dựa trên giải quyết vấn đề
    A--Người học độc lập phát hiện  tìm ra cách giải quyết vấn đề
  - Giáo viên đặt vấn đề để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề
  - Học sinh thực hiện các giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên
  - Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh
 B-Người học hợp tác phát hiện và giải quyết vấn đề
   - Giáo viên đặt vấn đề  gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề
   -Học sinh thực hiện các giải quyết vấn đề
   -Giáo viên  và học sinh cùng đánh giá
 C- Thầy trò vấn đáp phát hiện và giải quyết vấn đề
   - Giáo viên cung cấp thông tin  tạo tình huống
   -Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giải pháp
   - Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần
  - Giáo viên  và học sinh cùng đánh giá
D--Giáo viên thuyết trình phát hiện và giải quyết vấn đề
- Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc của cộng đồng , lựa chọn vấn đề giải quyết
- Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chất lượng và hiệu quả
   Trên đây là các mức độ của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, GV đưa học sinh vào những tình huống có vấn đề rồi giúp HS tự lực giải quyết vấn đề đặt ra. Bằng cách đó HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm bắt được phương pháp đi tới tri thức đó, lại vừa phát triển tư duy tích cực, sáng tạo và có khả năng vận dụng tri thức vào giải quyết tình huống mới.
4) Qui trình “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” .
      Qui trình “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” được thực hiện thông qua 4 giai đoạn.
*VÍ DỤ MINH HỌA
Bài: ÔN DỊCH, THUỐC LÁ(Ngữ Văn 8)
* Giới thiệu bài mới (-> nêu tình huống): 
GIAI ĐOẠN I. XÁC ĐỊNH VÀ TÌM HIỂU VẤN ĐỀ
Bước 1. Giới thiệu tình huống chứa đựng vấn đề (bằng cách kể một câu chuyện, thuật lại một sự kiện, nêu một bài toán, xem một đoạn video …): 
Hiện nay hầu như ở bất kỳ nơi nào cũng có bản khuyến cáo hoặc lời đề nghị: “Cấm hút thuốc lá”. Thế nhưng hằng ngày vẫn nhan nhãn những người không làm đúng như thế: Ở nhà sau bữa cơm, bố thường ngồi hút thuốc lá xem ti vi; trong quán café, nhiều người tụ tập tán chuyện với điếu thuốc lá phì phèo trên môi; rồi đến trường có những bạn trốn vào nhà vệ sinh để hút thuốc lá; …
- Vì sao phải “Cấm hút thuốc lá”? 
- Và làm thế nào để những người quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này?
Bước 2. Đặt câu hỏi (=> làm sáng tỏ vấn đề): 
2.1. Yếu tố đã biết: 
- nơi nào cũng có bản khuyến cáo hoặc lời đề nghị: “Cấm hút thuốc lá”;
- nhan nhãn những người hút thuốc lá …
2.2. Yếu tố chưa biết:
- vì sao phải “Cấm hút thuốc lá”? 
- làm thế nào để những người quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này?
Bước 3. Đề xuất các ý tưởng, giả thuyết (phân chia lớp học thành các nhóm, cử nhóm trưởng => HS thảo luận nhóm để đưa ra các ý tưởng và giả thuyết về vấn đề):
a) Phải “Cấm hút thuốc lá”, bởi vì thuốc lá:
+ có hại cho sức khỏe bản thân và người chung quanh;
+ tốn tiền, tốn thời gian, ảnh hưởng đến công việc;
+ ô nhiễm môi trường (khói thuốc lá, xả tàn thuốc, bao thuốc);
+ trong thuốc lá có độc tố nicotin;
+ miệng và hơi thở của người hút thuốc rất hôi, gây khó chịu cho người khác;
+ xã hội ngày càng văn minh thì càng không nênhút thuốc lá; 
+ nội quy nhà trường không cho phép HS hút thuốc lá;
+ người lịch sự là người không hút thuốc lá;
+ xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh “không thuốc lá” , v.v … 
b) Để những người quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này, cần phải:
+ nói cho họ biết những tác hại của việc hút thuốc lá;
+ cấm sản xuất, buôn bán thuốc lá;
+ phạt nặng những người hút thuốc lá;
+ tập trung người nghiện thuốc lá vào các trại cai nghiện;
+ tăng cường nhiều pano, tranh ảnh, khẩu hiệu kêu gọi mọi người từ bỏ thuốc lá, v.v…
Bước 4. Xác định các kiến thức cần cho việc giải quyết vấn đề (liệt kê các nội dung kiến thức cần có để kiểm chứng). 
+ có hại cho sức khỏe bản thân và người chung quanh;
+ tốn tiền, tốn thời gian, ảnh hưởng đến công việc;
+ ô nhiễm môi trường (khói thuốc lá, xả tàn thuốc, bao thuốc);
+ trong thuốc lá có độc tố nicotin;
+ miệng và hơi thở của người hút thuốc rất hôi, gây khó chịu cho người khác;
+ xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh “không thuốc lá”; 
+ nói cho họ biết những tác hại của việc hút thuốc lá;
+ tăng cường nhiều pano, tranh ảnh, khẩu hiệu kêu gọi mọi người từ bỏ thuốc lá.
=> (14 ý tưởng, giả thuyết đề xuất -> 08 kiến thức cần có để kiểm chứng)
Bước 5. Liệt kê những kiến thức chưa biết (GV xem xét danh mục các nội dung kiến thức cần có để giải quyết vấn đề, đề xuất các kiến thức mới cần nghiên cứu):
- đặc điểm của thuốc lá; 
- thuốc lá có hại cho bản thân, cho người chung quanh, cho xã hội; 
- Khắp nơi nổi lên chiến dịch chống thuốc lá.
GIAI ĐOẠN II
TỰ TÌM HIỂU CÁC KIẾN THỨC CÓ LIÊN QUAN
Bước 1. Định hướng nguồn thông tin (chủ yếu là SGK, sách tham khảo; tham khảo tài liệu và thông tin trên Internet; tham vấn chuyên gia, đương sự liên quan):
- SGK Ngữ văn 8, tập 1: bài Ôn dịch, thuốc lá.
- Tài liệu tham khảo: những bài viết về tác hại của thuốc lá; tâm sự của người nghiện thuốc lá; các tranh ảnh, pano, khẩu hiệu cổ động phong trào phòng chống thuốc lá, … 
Bước 2. Tự nghiên cứu (nội dung nghiên cứu có thể được tách thành từng chủ đề nhỏ, phân công theo khả năng của các thành viên trong nhóm). 
- Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 9 em. Nhóm trưởng phân công nghiên cứu từng chủ đề nhỏ cho các thành viên: 
+ Bạn A, B, C: đặc điểm của thuốc lá;
+ Bạn D, Đ, E: thuốc lá có hại cho bản thân, cho người chung quanh, cho xã hội; 
+ Bạn G, H, I: Khắp nơi nổi lên chiến dịch chống thuốc lá.
GIAI ĐOẠN III.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Bước 1. Hệ thống hóa kiến thức mới nhận được (thành viên trong nhóm trình bày, thảo luận, chia sẻ về từng chủ đề nhỏ đã nghiên cứu => tất cả các thành viên trong nhóm đều hiểu được chủ đề và biết được ý nghĩa của nó trong việc kiểm chứng các ý tưởng, giả thuyết). 
+ Bạn A trình bày “đặc điểm của thuốc lá” , bạn B, C bổ sung (nếu có);
+ Bạn D trình bày “thuốc lá có hại cho bản thân, cho người chung quanh, cho xã hội”, bạn Đ, E bổ sung (nếu có);
+ Bạn G trình bày về “Khắp nơi nổi lên chiến dịch chống thuốc lá”, bạn H, I bổ sung (nếu có).
Bước 2. Đánh giá ý tưởng, giả thuyết (xem xét, kiểm chứng về tính đúng đắn của từng ý tưởng, giả thuyết => vấn đề được giải quyết trên cơ sở hệ thống kiến thức mới và sự suy luận có lôgic).
a) Phải “Cấm hút thuốc lá”, bởi vì thuốc lá:
+ có hại cho sức khỏe bản thân và người chung quanh;
+ tốn tiền, tốn thời gian, ảnh hưởng đến công việc;
+ ô nhiễm môi trường (khói thuốc lá, xả tàn thuốc, bao thuốc);
+ trong thuốc lá có độc tố nicotin;
+ miệng và hơi thở của người hút thuốc rất hôi, gây khó chịu cho người khác;
+ xã hội ngày càng văn minh thì càng không nên hút thuốc lá; 
+ nội quy nhà trường không cho phép HS hút thuốc lá;
+ người lịch sự là người không hút thuốc lá;
+ xây dựng nếp sống văn minh lành mạnh “không thuốc lá”. 
b) Để những người quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này, cần phải:
+ nói cho họ biết những tác hại của việc hút thuốc lá;
+ cấm sản xuất, buôn bán thuốc lá;(=> từng bước hạn chế)
+ phạt nặng những người hút thuốc lá; (=> hiện nay chưa khả thi)
+ tập trung người nghiện thuốc lá vào các trại cai nghiện;(=> cai nghiện tại nhà, giúp đỡ, thuyết phục).
+ tăng cường nhiều pano, tranh ảnh, khẩu hiệu kêu gọi mọi người từ bỏ thuốc lá, v.v…
GIAI ĐOẠN 4.
 TRÌNH BÀY KẾT QUẢ
Bước 1. Viết báo cáo kết luận hay tạo sản phẩm (báo cáo có 3 phần: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết luận; tạo sản phẩm, giải pháp … về vấn đề).
* GV nêu lại vấn đề: - Vì sao phải “Cấm hút thuốc lá”? 
- Và làm thế nào để những người quanh em nhận thức đầy đủ hơn về vấn đề này?
+ Cách 1: Lớp có 4 nhóm; mỗi nhóm cử một đại diện báo cáo trước lớp về chủ đề đã nghiên cứu -> lớp nhận xét, điều chỉnh, bổ sung (nếu cần).
+ Cách 2: Mỗi nhóm cử đại diện báo cáo trước lớp một nội dung khác nhau (nhóm 1: đặc điểm của thuốc lá; nhóm 2: thuốc lá có hại cho bản thân, cho người chung quanh, cho xã hội; nhóm 3: khắp nơi nổi lên chiến dịch chống thuốc lá; nhóm 4: chung cả 3 chủ đề) => lớp nhận xét, điều chỉnh, bổ sung (nếu cần).
Bước 2. Thể chế hóa kiến thức đã học (xem xét lại các kiến thức liên quan tới môn học đã lĩnh hội được thông qua giải quyết vấn đề => đáp ứng mục tiêu môn học đã đề ra).
- GV và HS chốt lại các kiến thức, kỹ năng theo định hướng nêu trong mục ghi nhớ của SGK.                                 
III/ KẾT THÚC VẤN ĐỀ
      Phương pháp dạy học tích cực nói chung và phương pháp “Dạy hoc dựa trên giải quyết vấn đề”nói riêng nhằm giúp học sinh hứng thú và tự giác trong học tập. Đồng thời qua các hình thức tổ chức học tập hợp tác giúp học sinh có kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thuyết phục, kĩ năng lắng  nghe tích cực, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ được rèn luyện và phất triển. Thông qua việc tự đánh giá kết quả học sinh không chỉ được rèn luyện kĩ năng xem xét, phân tích vấn đề mà còn tự điều chỉnh cách học của mình hợp lí hơn
PHẦN II
THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
DỰA TRÊN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
A-VẤN ĐỀ ĐƯỢC SỬ DỤNG
1.     Giới thiệu vấn đề
2.     Thiết kế câu hỏi trung tâm
3.     Các kiến thức, kỹ năng người học đã biết
4.     Những kiến thức, kỹ năng chưa biết cần để giải quyết vấn đề
5.     Hệ thống các câu hỏi định hướng
6.     Các phương pháp giải quyết vấn đề
7.     Những kỹ năng cần có
8.     Các môn học có liên quan (nếu có)
9.     Nguồn tài liệu liên quan
10.Đánh giá kết quả giải quyết vấn đề
B-GIỚI THIỆU MỘT HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Tiết:
A.   Mục tiêu
-KT
-KN
-TĐ
B.    Chuẩn bị
GV
HS
C.   Phương pháp
D.   Tiến trình:
Hoạt động 1: KTBC
Hoạt động 2: Phương châm về lượng trong hội thoại
PP: Dạy học dựa trên GQVĐ.
I. VẤN ĐỀ ĐƯỢC SỬ DỤNG
1.Giới thiệu vấn đề: Tình huống giao tiếp trong thực tế
Hai bạn A và B chơi rất thân với nhau. Một hôm, A đi bơi về gặp B. B hỏi:
- Bạn đi đâu về vậy?
- Mình đi bơi.
- Bạn bơi ở đâu?
- Mình đi bơi ở dưới nước chứ còn ở đâu nữa?
Nghe vậy, B giận dỗi bỏ đi.
Là bạn thân của A và B, em sẽ làm thế nào để hai bạn hiểu và không còn giận nhau?
2.Thiết kế câu hỏi trung tâm:
-  Trong hội thoại, người nói cần tuân thủ những phương châm gì để người nghe có thể hiểu đúng và đầy đủ nội dung cần thiết?
3.Các kiến thức, kỹ năng người học đã biết:
- Vai xã hội trong hội thoại?
- Cách đối xử của người có vai xã hội thấp với người có vai xã hội cao và ngược lại.
4.Những kiến thức, kỹ năng chưa biết cần để giải quyết vấn đề:
- Phương châm về lượng trong giao tiếp.
5.Hệ thống các câu hỏi định hướng:
- Nói thế nào là đúng và đủ trong giao tiếp?
- Tại sao trong giao tiếp có tình trạng “ Ông nói gà, bà nói vịt”? Cách nói như trên có ảnh hưởng gì đến kết quả giao tiếp?
6.Các phương pháp giải quyết vấn đề:
- Phân tích tình huống từ câu chuyện thực tế.
- Đề xuất các ý tưởng, giải thiết.
- Định hướng nguồn thông tin.
- Đưa ra các kết quả.
7.Những kỹ năng cần có:
- Lắng nghe tích cực.
- Phân tích, tổng hợp, đánh giá, phản hồi, rút ra kết luận.
8.Các môn học có liên quan (nếu có):
- Phân môn Văn học.
- Môn Giáo dục công dân.
- Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống.
9.Nguồn tài liệu liên quan:
- Sách giáo khoa các bộ môn nói trên và nguồn tư liệu trên mạng.
10. Đánh giá kết quả giải quyết vấn đề:
- Đánh giá qua phản hồi của cá nhân, kết quả làm việc nhóm và trao đổi thảo luận của các nhóm.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:
GIAI ĐOẠN
(Thời gian)
Nội dung Hoạt động
Giáo viên Học sinh
Xác
Định và tìm hiểu vấn đề
(5 phút)
 
- Giới thiệu tình huống chứa đựng vấn đề
- Đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi liên quan đến câu chuyện để xác định các kiến thức đã biết và chưa biết.
 
 
 
 
-Đề xuất ý tưởng giả thuyết.
 
 
-Xác định kiến thức.
 
 
 
 
- Kể câu chuyện về giao tiếp có vi phạm phương châm về lượng.
- Trả lời các câu hỏi của HS
- Yêu cầu HS nhắc lại kiến thức đã học về HT
- Cho HS liệt kê những KT đã biết và những KT chưa biết
 
 
-Cho HS đề xuất ý tưởng, GT
 
 
- Xác định các KT cần cho GQVĐ:
+Phương châm về lượng (đúng, đủ)
- Cho HS liệt kê những KT chưa biết
- Lắng nghe tích cực
 
 
 
- Đặt câu hỏi về những vấn đề của tình huống
 
 
-HS dùng sơ đồ tư duy để liệt kê những kiến thức đã biết và chưa biết
 
- HS làm việc nhóm để đề xuất ý tưởng, GT (Có thể đóng vai HT)
- Xác định các KT, KN cần có để GQCĐ
 
Tìm hiểu 
các kiến thức có liên quan

(10 phút)
 
- Kiến thức về hội thoại
 
 
- Định hướng cho HS các nguồn thông tin liên quan để có thể GQVĐ: ca dao, tục ngữ, một số văn bản đã học, những mẩu đối thoại trong cuộc sống  
- Tìm hiểu các tư liệu có liên quan đến phương châm HT như GV đã hướng dẫn
 
-Nghiên cứu, phân tích, thảo luận các ý tưởng vừa tìm được
Giải quyết 
vấn đề

(15 phút)
 
-Hệ thống các KT mới nhận được
 
-Kiểm nghiệm ý tưởng, GT
 
 
-Tổ chức cho HS hệ thống KT vừa tìm hiểu.
-Cho HS đối chiếu KT tìm hiểu được với tình huống đặt ra.
 
-Tổng hợp các kiến thức.
 
 
 
- Đối chiếu và lí giải quyết tình huống
 
Trình bày 
kết quả

(15 phút)
 
- Trình bày sản phẩm
 
 
 
 
-Thể chế hóa KT đã học được
 
 
- Tổ chức cho HS trình bày KQ (cách giải quyết tình huống thực tế)
 
- Chốt lại KT và cho HS thực hiện bài tập vận dụng
 
-Các nhóm trình bày
-Nhận xét, đánh giá và rút ra KL
 
-Nêu ý kiến phản hồi.
    
        PHẦN III
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ ĐỀ XUẤT
1)    Bài học kinh nghiệm:
       Muốn vận dụng thành công dạy học giải quyết vấn đề, trước hết bạn phải xác định đây là 1 QUAN ĐIỂM DẠY HỌC chứ không phải là phương pháp dạy học cụ thể.
                Có rất nhiều mức độ trong DH GQVĐ:
-Mức độ dễ nhất là thuyết trình vấn đáp: Quan trọng nhất là hệ thống hệ thống câu hỏi hợp lý nhưng phải nêu vấn đề. Cả 3 bước: trình bày vấn đề, tìm phương án giải quyết và giải quyết vấn đề đều do GV thực hiện, HS tiếp thu tương đối thụ động.

-Mức độ cao hơn: Quyết định thành công vẫn là hệ thống câu hỏi. HS tham gia từng phần vào từng bước. HS đã bắt đầu chủ động giải quyết các vấn đề.

-Mức độ cao nhất: HS chủ động cả 3 bước trên nhưng theo sự hướng dẫn của GV. 

-Nói chung là mức độ cao GV phải phối hợp nhiều PPDH: hợp tác nhóm, sẽ kết hợp thật tốt PPDH theo dự án, nghiên cứu.

-Tùy nội dung và đối tượng HS mà GV chúng ta sẽ áp dụng mức độ nào và phối hợp những PPDH nào cho hợp lý.
- Để thực hiện tốt phương pháp này yêu cầu giáo viên phải xác định nội dung trọng tâm của bài học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, xây dựng được tình huống thực tế có liên quan đến nội dung bài học và vận dụng kiến thức trong bài học để giải quyết vấn đề.
       - Tuỳ theo đối tượng học sinh mà giáo viên vận dụng các mức độ thể hiện của vấn đề cho phù hợp.Ở cấp độ áp dụng cao nhất, học sinh sẽ là người phát hiện và giải quyết vấn đề, giáo viên chỉ đóng vai trò trợ giúp, khuyến khích học sinh chủ động và tích cực trong quá trình học tập.
       - Không phải bài học nào giáo viên cũng phải tạo cho bằng được tình huống có vấn đề mà tùy thuộc vào từng bài học, tiết học cụ thể. Do đó giáo viên cần phải linh hoạt trong mọi tình huống để sử dụng phương pháp này một cách phù hợp.
- Trong một tiết học có thể vận dụng linh hoạt nhiều phương pháp dạy học, kĩ thuật dạy học, như: ƯD CNTT, Phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác nhóm, dạy học bằng sơ đồ tư duy... để giúp học sinh tìm hiểu bài, chiếm lĩnh  tri thức
    2) Đề xuất : Đối với những chuyên đề cấp thành phố  khi tập huấn phòng giáo dục mới chỉ tập huấn lí thuyết thì chưa đủ nên có những tiết dạy thử nghiệm mẫu để giáo viên học hỏi rút kinh nghiệm qua đó áp dụng vào quá trình giảng dạy của mình cho khỏi lúng túng.  
      Trên đây toàn bộ nội dung chuyên đề “Dạy học dựa trên giải quyết vấn đề” được tổ Ngữ văn trường THCS Lý Tự Trọng  tìm tòi, nghiên cứu, thực hiện từ đầu năm học 2012 - 2013 đến nay. Vì mới chỉ là bước đầu thử nghiệm nên chuyên đề không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, mang tính chủ quan. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, chia sẻ kinh nghiệm của các thầy cô giáo dạy Ngữ văn trong toàn thành phố để chuyên đề này đầy đủ hơn, hoàn chỉnh hơn. Từ đó, chúng ta rút ra được những điểm chung nhất của phương pháp dạy học tích cực này để áp dụng vào từng bài dạy cụ thể nhằm nâng cao chất lượng môn văn trong  trường  nói riêng và các trường bạn nói chung trong thành phố.

                                                                                                                                         Bùi Thị Ánh Tuyết
 
                                                         
 

Tác giả bài viết: Bùi Thị Ánh Tuyết

Nguồn tin: truonghocketnoi.edu.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn