Ngang

Banner

Menu

20:29 EDT Thứ hai, 23/10/2017

Hinh

Danh mục

Thăm dò ý kiến

Bạn là ai ?

Học sinh

Cựu học sinh

Giáo viên - Cán bộ nhà trường

Phụ huynh học sinh

Khách vãng lai

Thành viên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 30

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 28


Hôm nayHôm nay : 500

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 10524

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4122401

Trang nhất » Tin Tức » Phương pháp dạy học

Giới thiệu Thơ lục bát và hướng dẫn học sinh làm Thơ lục bát

Thứ ba - 03/11/2015 09:21
                ĐỀ CƯƠNG  SINH HOẠT CÂU LẠC BỘ VĂN HỌC
                                 
       TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LÝ TỰ TRỌNG TAM KÌ
                       TỔ NGỮ VĂN- MĨ THUẬT
     (Giới thiệu Thơ lục bát và hướng dẫn học sinh làm Thơ lục bát)
1.TÌM HIỂU VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THƠ
Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe. Từ thơ thường được đi kèm với từ câuđể chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp. Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình. Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ. Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác.
Thơthơ ca hay thi ca, là một khái niệm chỉ các loại sáng tác văn học có vần điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cô đọng. Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó súc tích và gây cảm xúc cho người đọc một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, một bài thơ thường còn mang tính vần giữa câu nọ với câu kia và tổ hợp của các câu gây ra âm hưởng nhạc tính trong bài. Thơ thường dùng như một hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình, hoặc tình cảm xúc động trước một hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi người ta đứng trước một phong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước một cảnh ngộ nào đó. Sự tương tác giữa tình cảm con người và hoàn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà người ta muốn bày tỏ với một phong độ chắt lọc, tinh khiết, không rườm rà, song có mức thông tin cao, đột phát, nhưng cô đọng và chiết khúc. Muốn làm được như vậy, người làm thơ phải có một con mắt quan sát chi tiết, tổng quát hóa, và nhanh chóng liên tưởng giữa những hình ảnh quan sát được với những gì vốn có trước đây.
Tính nhạc trong thơ là một hình thức làm cho bài thơ dễ được cảm nhận bởi người nghe hay người đọc và sức cảm nhận nhanh
Tính hội họa trong thơ, hay còn gọi là tính tạo hình, là một tính chất cơ bản. Người làm thơ, trước khi viết thơ, thường rơi vào tình trạng mà người ta gọi là "cảm hứng".

Quan sát Cách diễn tả thường thấy Cách diễn tả có tính thơ hơn
Mưa Ảm đạm, xối xả, rầu rĩ Thì thầm, lõm bõm, quất mặt, vắt nước, bạc trời đất, xiên ngang trời
Buồn Thảm, rầu, ơi là buồn, héo hắt, tênh Lãng đãng, nham nhở, đặc sệt, nhỏ giọt, thở khói đen, bám rễ, đeo trên ngực
Hoa Nở, thắm, thơm lừng, thơm ngát, thơm nồng Chúm chím, nứt ra, ngóc đầu, nhảy múa, hát vị ngọt, phanh lồng ngực tỏa hương
Việc chọn lọc từ tạo nên hình ảnh thường được thấy rất nhiều trong các bài thơ. Có những hình ảnh đẹp, mềm mại, hài hòa, thơ mộng. Có những hình ảnh khắc khổ, vuông thành sắc cạnh, song cũng có những hình ảnh đồ xộ, đôi khi gớm ghiếc. Mỗi một hình ảnh đều nhằm tái tạo lại thị giác, cảm quan của người làm thơ lúc họ viết. Một trong những ví dụ về hình ảnh có thể tìm thấy trong tập Truyện Kiều củaNguyễn Du:
1

Thơ là thể loại văn học lấy cảm xúc, lấy trí tuệ súc tích được diễn đạt theo hình thức có vần điệu hoặc tự do (không vần điệu). Trong việc sáng tác các thể loại văn học thì nhà thơ là người cần thiên phú nhất, cho nên ít khi do học mà làm được thơ hay, dù nếu đã làm được thơ hay và cũng được học thì vẫn tốt hơn.
Thơ tồn tại như một loại thể văn học, còn "chất Thơ" hay "chất Thi ca" thì tồn tại ở nhiều loại hình, loại thể văn nghệ và trong thiên nhiên nói chung. Ví dụ một phong cảnh đẹp, một không khí môi trường gợi cảm xúc thi ca - như mùa thu vàng, chiều đông tuyết nhẹ rơi lãng đãng, khi tiễn hay đón gặp lại người thân sau nhiều năm xa vắng... làm cho tâm hồn tràn lên cảm xúc trữ tình, khiến ta như muốn ca lên, hát lên để biểu lộ một cái gì đó dạt dào hay xao xuyến.
Nói tóm lại thi ca là tất cả những gì thuộc tình cảm và lý trí chịu sự chi phối của cảm xúc rung động đa dạng của con người. Khi nào bạn còn những rung động đó, nghĩa là tâm hồn bạn còn chất thi ca, còn khiến bạn sống có ý nghĩa hơn trên cõi đời này. Thơ, ngoài đặc điểm đó, lại là một nghệ thuật tuân theo các tính chất riêng của thể loại này - trong đó yếu tố trời cho làm thơ là số một. Những tính chất riêng của thể loại thơ là một vấn đề lớn, mà muốn hiểu nó chúng ta cần tham khảo từ nhiều nguồn như cácgiáo trình văn học, cũng như các nguồn khác.
II- GIỚI THIỆU VỀ THƠ LỤC BÁT
          Lục bát không chỉ là tên một thể thơ truyền thống của Việt Nam, đã có sẵn trong kho tàng ca dao, tục ngữ truyền miệng từ bao đời nay mà còn là Hồn quê, là Văn hóa cội nguồn và Tâm linh của người Việt. Đó vừa là di sản vô giá, vừa là tài sản độc đáo, từ ngàn đời cha ông truyền lại cho con cháu hôm nay và mai sau.
                   Thơ lục bát có từ khi nào cũng không ai khẳng định chính xác , chỉ biết rằng nó ra đời khoáng thế kỉ 16  và đặc biệt ấn tượng trong lời ru của bà, của mẹ. Lời ru tha thiết theo nhịp tiếng võng đưa, quyện theo âm điệu bất chợt vang vọng xa vời , những lời ru liên miên bất tận,  theo vần điệu tự nhiên. Thơ Lục Bát như  hơi thở của Mẹ ru, đã thấm vào da thịt, thấm sâu vào tim. Vần điệu theo lời ru chập chờn theo nhịp sáu-tám, như à ơi nhịp nhàng theo tiếng võng đưa từ thưở ấu thơ
                     Lớn lên khi đến trường ta lại được nghe cô giáo giảng dạy những câu thơ lục bát trong giai điệu ấm áp trữ tình, yêu thương,Những câu ca dao dân ca mượt mà đằm thắm bay lên từ nắng gió đồng quê sông nước … Đó là hành trang theo ta đi suốt cuộc đời, vừa gần gũi, vừa thiêng liêng như nguồn cội và gia đình.
  Đó là những câu hát ru của những bà mẹ ru con bằng vần điệu êm ái, đã tồn tại trong ký ức dân tộc từ rất xa xưa cho đến ngày được lưu lại bằng chữ viết. Chỉ với 2 câu, một câu sáu chữ (lục), một câu tám chữ (bát). Chữ thứ 6 của câu lục vần với chữ thứ sáu, hoặc thứ tư của câu tám. Hai câu cũng có thể thành bài thơ hoặc kéo dài thành hàng ngàn câu thành một truyện thơ… đã trở thành một thể thơ đặc sắc, giàu tính sáng tạo , mở rộng cho mọi nội dung và những biên độ sáng tạo khác … Vừa chặt chẽ vừa phóng khoáng, một thể thơ giàu bản sắc Việt Nam.
                     Trong nền Văn học Việt Nam ,Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du là một tác phẩm Thơ lục bát điển hình,một kiệt tác của Văn học trung đại, là niềm tự hào của người Việt Nam với thế giới.Thơ lục bát trong Truyện Kiều đã đạt đến đỉnh cao về thể loại, ngôn ngữ Việt Nam và nghệ thuật diễn đạt văn chương.Thơ cận đại ,hiện đại Việt Nam có những cây bút thành danh về thơ lục bát như Bàng Bá Lân,Tản Đà,Trần Hiền Ân,Nguyễn Bính…
                    Là giáo viên của Trường THCS Lý Tự trong Tam Kỳ , tôi rất tự hào  xin  được giới thiệu hai Nhà giáo -Nhà thơ đương đại của Quảng Nam ,là hai thầy giáo từng  đã và đang là Hiệu Trưởng của nhà trường - hai Nhà thơ thành công lớn trong thể thơ lục bát :
              * Nhà giáo - Nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ  
                     Là một thi sĩ tinh tế lắng nghe mọi chuyển động của vũ trụ, vạn vật. Vũ trụ trong thơ Thầy chứa đầy ánh trăng, giọt sương, dòng sông, tiếng chim, cánh chuồn, nụ hoa kiến sen, giọt nắng:
                       “Tìm trong con nước bình yên
                         Vầng trăng sót lại bên triền nhớ nhung”
                                                       (Nhật thực)
 Hay
                        “Dòng sông gợn mấy nếp nhăn
                         Vầng trăng bao tuổi sao băng mấy lần
                                                         (Đi tìm).
                     Tác giả là nhà thơ già dặn, tay bút sắc sảo của vùng đất Tam Kì - Quảng Nam.  Thơ của Thầy trở nên khá suôn sẻ. Lục bát của thầy, theo đó,mà trải ra rất tự nhiên, “như thể chính thơ tự dàn xếp ngôn ngữ, cấu trúc chứ không phải do tác giả làm”. Như câu thơ trong bài “Và phố sẽ thu”:
                        “Ngổn ngang gạch đá lá hoa
                          Mùi xăng xe máy mùi cà phê rang
            Rất tự nhiên, rất thực.Cũng vì tính tự nhiên ấy, ở đôi bài, đôi câu trong thơ thầy có gì đó gần với thơ của Trung niên thi sĩ Bùi Giáng: “Chân đi để lại con đường/ và em để lại... chưa mường tượng ra” (Điều anh chưa biết).
   Điều này phần nào giúp ta  nhận diện các cung bậc âm thanh day
Dứt của nhà thơ. Thân phận của nhà thơ gắn bó mật thiết với tình yêu
Và thời gian, hoặc có thể nói rằng, tình yêu, thời gian và thân phận
Đã hòa trộn máu thịt trong tâm hồn thi nhân.
                         “ vẫn còn một nhánh sông quê
                            Vẫn còn một chỗ đi về lênh đênh
                            Còn bao kẻ nhớ người quên
                            Còn trên mặt nước sóng duềnh gọi mưa/
                             Mênh mông đồng trống gió lùa/
                             Thángnăm thơ ấu như vừa đi qua/
                             Nghe sông ru đủ bốn mùa/
                             Ru tôi không ngủ ngày chưa muốn chiều”
                                 ( Lắng nghe sông gọi).
                   Riêng tình yêu trong thơ Thầy Nguyễn Tấn Sĩ cũng có nhiều cung bậc, nhiều sắc thái. Tình yêu trai gái đan xen bao hình ảnh quê hương, kỷ niệm và tuổi thơ, Mái trường , các thế hệ học trò mà thầy đã yêu thương, gắn bó
                   Tập thơ  Màu rêu lục bát của Nhà thơ Nguyễn Tấn Sĩ đã góp một chất giọng lục bát hóm hỉnh, tinh tế rất riêng của thầy  cho nền lục bát dân tộc; và với chủ đề xuyên suốt thân phận và tình yêu, tập thơ đã ám ảnh bạn đọc về cảm giác cô đơn, mong manh, bất định
 
        * Nhà giáo- Nhà thơ Nguyễn Bá hòa
                   
                    Tập thơ Thuyền hạnh có 79 bài thơ bốn câu, trong đó 59 bài lục bát, tỉ lệ gần 75%. Có thể nói sở trường của Thầy giáo Nguyễn Bá Hòa là thơ lục bát; Thầy  chọn thể lục bát để đi vào thế giới thi ca
                       Nghiêng chiều rót nhớ vào đêm
                       Ngửa  mùa hứng giọt sương mềm vẹn nguyên
                                              (Thiên nhiên)
                   Có thể nói lục bát của Thầy Nguyễn Bá Hòa là lục bát “rin”. Gieo vần, ngắt nhịp, hài thanh không có biến tấu. Nhịp lục bát là nhịp ru, được xây dựng trên cơ sở nhịp 2, đều cho tất cả các câu 6 và câu 8. Phá cách  nhưng có ý đồ nghệ thuật rõ ràng. Lục bát trong Thuyền hạnh chỉ ba bốn bận ngắt nhịp lẻ:
               Đi một bước/cũng xuất hành
               Một câu thơ/cũng duyên lành/đầu năm
                                              (Xuất hành)
               
               Cái giếng cổ/bằng đá ong
               Cả làng uống/nước xanh trong/bốn mùa
               Lẫn trong nước/tiếng chuông chùa
               Tiếng thiêng liêng/tự ngàn xưa/vọng về
                                       (Giếng cổ)
Thơ lục bát là lời ru bên nôi nên chúng ta thấy gần gũi, quen thuộc. Thật ra nó là thơ thanh điệu, đã tồn tại qua hàng ngàn năm, có hình thức phát triển đến mức hoàn thiện nên là thách thức lớn đối với những ai muốn đi tìm cái đẹp với thể thơ này. Lục bát bốn câu (Lục bát tứ tuyệt) lại càng khó hơn; vì cần có tứ thơ để ý tình có chỗ trú ngụ, phải nén lại để nổ vỡ, phải chặt chẽ trong bố cục như bài tứ tuyệt luật Đường.Thi pháp của Thầy gắn kết chặt chẽ giữa truyền thống và hiện đại. Tinh tế sâu lắng, thâm trầm của một cây bút chan chứa “Thiện tâm”, cái mới, cái khác của Tập thơ Thuyền hạnh  ở chỗ, cảm thức trên hành trình kiếm tìm và khát khao cái đẹp, cái chân, cái thiện giữa cõi người đầy chắc ẩn trở nên ngày càng quyết liệt, mạnh mẽ như một hối thúc nhân tình không thể trì hoãn. Vậy nên càng đọc ta càng thấy hay ngay trong cái Tâm của thầy . Sức viết dồi dào, chất lượng đến độ chín. Cảm xúc thơ  sắc nhọn mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại được diễn tả bằng ngôn ngữ bình dị, chắt lọc, gợi cảm, hàm xúc, cao sang
III- HƯỚNG DẪN CÁCH LÀM THƠ  LỤC BÁT
                   Người Việt Nam rất  thích làm  thơ. Có người còn mạnh dạn cho rằng mỗi người Việt Nam là một thi sĩ. Ðiều nầy không hẳn là đúng, nhưng câu ví đó rất hợp tình hợp lý vì ai ai cũng có thể "nói thơ" được, bất luận người ấy có trình độ học vấn cao thấp như thế nào. Còn muốn trở thành "thi sĩ" thì người ấy phải có một trình độ học vấn tối thiểu, kèm theo sự hiểu biết về cấu trúc kỹ thuật của mỗi thể thơ. Nếu người làm thơ mà không nắm vững cấu trúc kỹ thuật của luật thơ thì bài thơ đó bị hỏng. Có nhiều người làm thơ mà không nắm vững luật thơ cho nên không thể được gọi là "thi sĩ" được, mặc dù người ấy đã từng làm khá nhiều thơ, hoặc in khá nhiều thi tập.Thơ lục bát dễ làm nhưng khó thành công,khó đứng được,không khéo sẽ biến thành hò vè.
                    Muốn làm thơ lục bát thành công  và muốn trở thành "thi sĩ"  cần nắm vững luật thơ, cần viết  ngắn gọn và trong sáng để người đọc dễ cảm  hiểu.Cụ thể để làm thơ lục bát cần nắm vững và có các thao tác sau:
            A.Thể loại –Hình thức :
Thơ Lục Bát là thể thơ quy định hai câu liên tiếp một câu sáu chữ, một câu tám chữ và số câu thì không giới hạn
+Nắm vững luật thơ lục bát chính thức và biến thể     
Âm của chữ thứ 6 của câu số 6 vần với âm của chữ thứ 6 của câu số 8. Chữ thứ 8 của câu số 8 vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo. Chữ thứ 6 của câu thứ 8 tiếp theo vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 kế trên. Chữ thứ 8 của câu thứ 8 này vần với chữ thứ 6 của câu thứ 6 tiếp theo . v.v….
-Nhịp,giọng điệu
 -Bảng luật bằng trắc
 
 Mô hình thơ lục bát như sau
 
          1   2   3   4   5   6
          1   2   3   4   5   6   7   8
          1   2   3   4   5   6
          1   2   3   4   5   6   7   8
          1   2   3   4   5   6
             1   2   3   4   5    6    7    8
 
Trích đoạn thơ Kim Vân Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh) của Nguyễn Du để minh hoạ thơ lục bát
 
    ….Đầu lòng hai ả Tố Nga
     Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân     
     Mai cốt cách tuyết tinh thần
     Mỗi người một vẻ  mười phân vẹn mười
     Vân xem trang trọng khác vời
     Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Qua đoạn thơ trên, chúng ta thấy âm vận trong thơ lục bát không quá khắt khe. Nếu khi thuận lợi cho ý thơ, có thể sử dụng âm vần nhau một cách chặt chẽ như : Nga, là – Vân, thần, phân. Nhưng cũng có thể sử dụng những âm tương tợ để hợp với ý câu, như : mười, vời, nở 
+Nghệ thuật diễn đạt:
-Cách xây dựng  bố cục,
-Cách dùng ngôn ngữ diễn đạt,
-Cách dùng các biện pháp tu từ
            B.Nội dung
+Xác định đề tài và chủ đề tư tưởng : chọn một trong các đề tài :
-         Gia đình ,người thân (ông bà,cha mẹ,anh chị em…)
-         Kỉ niệm với quê hương(nhà cũ,vườn xưa,dòng sông,bến nước,cánh đồng…)
-         Mái trường thân yêu, tình cảm bạn bè
-         Lòng kính yêu và biết ơn thầy cô giáo
-         Biết ơn những thương binh,liệt sĩ.anh hùng cách mạng,bà mẹ Việt Nam anh hùng
 -   Đất nước ,con người Tam Kì - Quảng Nam đổi mới ,phát triển đi lên từ sau giải phóng 1975 đến nay
C.Tiến hành sáng tác
 +Căn cứ vào đề tài ,chủ đề :
     -   Lập dàn ý,bố cục bài thơ,
-   Viết từng khổ ,đoạn thơ
-   Liên kết thành chỉnh thể bài thơ
-   Xem lại vần,nhịp,hài thanh,từ ngữ,các biện pháp tu từ nghệ thuật diễn đạt.
                      Thơ lục bát là thể loại thơ dễ làm, nhưng không vì thế mà nó kém giá trị sử dụng. Với tài văn chương của những thi sĩ hàng đầu, các tác giả vẫn có thể tạo nên những tác phẩm thơ tuyệt bút.
 
                                                           
                                                             Bùi Thị Ánh Tuyết
 

Tác giả bài viết: Bùi Thị Ánh Tuyết

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn